So sánh đường cong chưng cất điểm sôi thực của 3 mẫu dầu thô mỏ Bạch Hổ, Tê Giác Trắng H5 và Dừa

Chủ nhiệm Nguyễn Thị Anh Thư và nhóm tác giả đã phân tích toàn diện mẫu dầu thô và khí mỏ Tê Giác Trắng H5 và mỏ Dừa. Kết quả nghiên cứu được bổ sung vào Hệ thống cơ sở dữ liệu dầu khí về các mẫu dầu thô, khí ở các mỏ khác nhau và các mẫu dầu, khí thương mại của Việt Nam.

Các mẫu dầu thô được xử lý, tách khí, loại nước sau đó chưng cất theo tiêu chuẩn ASTM D2892 và ASTM D5236 để thu được đường cong chưng cất điểm sôi thực và các phân đoạn sản phẩm. Dầu thô, khí và các phân đoạn sản phẩm được phân tích chi tiết thành phần và các tính chất hóa lý. Từ đó, nhóm tác giả tổng hợp, xử lý kết quả phân tích dầu thô và khí; đánh giá, so sánh với dầu thô mỏ Bạch Hổ và các mẫu dầu thô, khí đã được phân tích trước đây. 

Mẫu dầu thô Tê Giác Trắng H5 và Dừa có một số tính chất chung tương tự dầu thô hỗn hợp mỏ Bạch Hổ, là loại dầu ngọt có tỷ trọng nhẹ đến trung bình; thuộc họ paraffinic nhiều paraffin rắn, điểm chảy/điểm đông đặc cao; hàm lượng nhựa và asphaltene thấp không thích hợp để sản xuất nhựa đường.

Khí đồng hành mỏ Tê Giác Trắng H5 là khí sạch, đáp ứng các yêu cầu về quy cách khí thu gom trong bể Cửu Long. Việc thu gom và sử dụng khí đồng hành mỏ Tê Giác Trắng H5 góp phần gia tăng sản lượng khai thác. Khí đồng hành mỏ Dừa có chất lượng tương đối tốt sau khi tách loại tạp chất và nước.

Kết quả của nghiên cứu này là cơ sở quan trọng cho quá trình nghiên cứu, thăm dò, khai thác và vận chuyển dầu khí; đặc biệt là tính toán hiệu quả kinh tế, tối ưu hóa nguồn nguyên liệu dầu thô đầu vào cho các nhà máy lọc dầu.

Tin bài: Tòa soạn TCDK

Số lần đọc: 107, đăng ngày: 06/09/2017